Đề tài luận văn logistics: 25 gợi ý có mô hình và dữ liệu

Khóa luận tốt nghiệp··20 phút đọc

Bạn đang cần chốt đề tài luận văn logistics nhưng chưa biết đề tài nào đủ hẹp để làm, có thể phát bảng hỏi và chạy SPSS hoặc SmartPLS. Một tiêu đề nghe hiện đại chưa đủ. Bạn còn phải xác định được đối tượng khảo sát, biến nghiên cứu, thang đo và nguồn dữ liệu trước khi trình giảng viên.

Danh sách dưới đây tập trung vào các đề tài định lượng, phù hợp với sinh viên có thời gian và nguồn lực giới hạn. Bạn có thể xem thêm các chủ đề Khóa luận tốt nghiệp để đối chiếu với yêu cầu của ngành và trường.

Chọn đề tài logistics theo tiêu chí nào

Một đề tài tốt thường nằm ở giao điểm của ba việc: có vấn đề thực tế, có người trả lời bảng hỏi và có mô hình để kiểm định. Nếu đề tài cần dữ liệu nội bộ của một tập đoàn mà bạn không có quyền tiếp cận, rủi ro bị kẹt ở bước thu thập dữ liệu rất cao.

Bạn nên viết thử một câu hỏi nghiên cứu trước khi chốt tên đề tài. Chẳng hạn: “Những yếu tố nào ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ giao hàng nhanh của khách hàng tại Thành phố Hồ Chí Minh?” Câu hỏi này đã gợi ra biến phụ thuộc là ý định sử dụng và nhóm biến độc lập có thể là giá, tốc độ, độ tin cậy, khả năng theo dõi đơn hàng.

Tiêu chí kiểm traCâu hỏi bạn cần trả lờiMức phù hợp với sinh viên
Phạm viNghiên cứu một loại dịch vụ, một nhóm người và một khu vực cụ thể chưaNên giới hạn trong một thành phố hoặc một nhóm khách hàng
Dữ liệuBạn có thể tiếp cận người trả lời trong thời gian thu thập khôngTốt nếu dùng bảng hỏi trực tuyến và có tiêu chí sàng lọc
Mô hìnhCó biến độc lập, biến phụ thuộc và giả thuyết rõ khôngTừ 3 đến 6 biến độc lập thường dễ kiểm soát
Thang đoCác khái niệm đã có thang đo tham khảo chưaƯu tiên chất lượng dịch vụ, sự hài lòng, ý định, hiệu quả
Phân tíchDữ liệu có thể chạy Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy hoặc PLS-SEM khôngPhù hợp với SPSS và SmartPLS
Tính khả thiBạn có thể hoàn thành bảng hỏi, làm sạch dữ liệu và viết chương 4 khôngTránh đề tài phụ thuộc vào dữ liệu mật của doanh nghiệp

Đừng chọn tên quá rộng như “Giải pháp phát triển logistics Việt Nam”. Tên này có thể phù hợp với một báo cáo tổng quan, nhưng khó chuyển thành bảng hỏi định lượng cho một khóa luận. Một phiên bản khả thi hơn là “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ giao hàng chặng cuối tại Hà Nội”.

Bạn cũng nên ghi lại nguồn của từng thang đo ngay từ lúc lập mô hình. Khi viết chương 2 và chương 3, phần cách trích dẫn tài liệu tham khảo sẽ giúp bạn tránh tình trạng có tên tác giả trong nội dung nhưng thiếu thông tin trong danh mục tài liệu.

Danh sách đề tài theo nhóm

Các đề tài dưới đây được viết theo cấu trúc có thể chuyển thành nghiên cứu định lượng. Bạn vẫn cần điều chỉnh địa bàn, đối tượng và loại hình doanh nghiệp theo khả năng tiếp cận dữ liệu.

Nhóm 1: Logistics thương mại điện tử và giao hàng chặng cuối

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ giao hàng chặng cuối tại Hà Nội. Biến độc lập có thể gồm tốc độ giao hàng, độ tin cậy, khả năng theo dõi, thái độ nhân viên và phí giao hàng. Biến phụ thuộc là sự hài lòng.

  2. Ảnh hưởng của chất lượng giao hàng đến ý định mua lại trên sàn thương mại điện tử. Các biến độc lập gồm giao đúng hẹn, hàng nguyên vẹn, thông tin trạng thái đơn hàng và chính sách đổi trả. Biến phụ thuộc là ý định mua lại.

  3. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng tủ khóa nhận hàng của người tiêu dùng. Có thể kiểm định ảnh hưởng của sự tiện lợi, cảm nhận an toàn, khả năng tiết kiệm thời gian và nhận thức dễ sử dụng đến ý định sử dụng.

  4. Ảnh hưởng của phí giao hàng đến quyết định lựa chọn dịch vụ giao hàng nhanh. Mô hình có thể đưa thêm tốc độ, độ phủ điểm giao nhận và độ tin cậy của nhà cung cấp vào nhóm biến giải thích.

Nhóm 2: Quản trị chuỗi cung ứng tại doanh nghiệp

  1. Ảnh hưởng của chia sẻ thông tin đến hiệu quả chuỗi cung ứng của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Biến độc lập gồm chất lượng thông tin, tính kịp thời, mức độ minh bạch và mức độ phối hợp. Biến phụ thuộc là hiệu quả chuỗi cung ứng.

  2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng chống chịu của chuỗi cung ứng. Bạn có thể khảo sát khả năng nhận diện rủi ro, kế hoạch dự phòng, tính linh hoạt và quan hệ với nhà cung cấp.

  3. Ảnh hưởng của quan hệ với nhà cung cấp đến hiệu quả hoạt động mua hàng. Các biến phù hợp gồm niềm tin, cam kết, chia sẻ thông tin và phối hợp giải quyết vấn đề.

  4. Tác động của quản trị tồn kho đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phân phối. Nên giới hạn đối tượng vào một nhóm doanh nghiệp cụ thể, chẳng hạn nhà phân phối hàng tiêu dùng hoặc linh kiện.

Nhóm 3: Logistics xanh và phát triển bền vững

  1. Ảnh hưởng của logistics xanh đến hình ảnh thương hiệu của doanh nghiệp. Biến độc lập có thể gồm phương tiện ít phát thải, bao bì xanh, tối ưu tuyến giao hàng và thu hồi bao bì. Biến phụ thuộc là hình ảnh thương hiệu.

  2. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn dịch vụ giao hàng xanh của khách hàng. Mô hình có thể xem xét nhận thức môi trường, giá dịch vụ, sự thuận tiện và niềm tin vào cam kết xanh.

  3. Ảnh hưởng của thực hành chuỗi cung ứng xanh đến lợi thế cạnh tranh. Đối tượng khảo sát nên là nhân viên hoặc nhà quản lý tại doanh nghiệp, vì khách hàng khó đánh giá đầy đủ các thực hành nội bộ.

  4. Tác động của bao bì bền vững đến sự hài lòng của khách hàng thương mại điện tử. Biến phụ thuộc có thể là sự hài lòng hoặc ý định giới thiệu, tùy mục tiêu nghiên cứu.

Nhóm 4: Công nghệ trong logistics

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng hệ thống quản lý vận tải của doanh nghiệp. Có thể dùng cảm nhận hữu ích, cảm nhận dễ sử dụng, chi phí triển khai, hỗ trợ của tổ chức và áp lực cạnh tranh.

  2. Ảnh hưởng của khả năng hiển thị dữ liệu đến hiệu quả quản lý vận chuyển. Biến độc lập là khả năng cập nhật, độ chính xác, khả năng tích hợp và khả năng phân tích dữ liệu.

  3. Ý định áp dụng Internet of Things trong quản lý kho. Đối tượng phù hợp là nhân viên logistics, quản lý kho hoặc người tham gia quyết định công nghệ.

  4. Ảnh hưởng của chất lượng ứng dụng giao hàng đến sự hài lòng của tài xế công nghệ. Có thể đo tính dễ sử dụng, độ ổn định, khả năng định tuyến và chất lượng hỗ trợ.

Nhóm 5: Dịch vụ logistics và vận tải

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng doanh nghiệp đối với dịch vụ logistics bên thứ ba. Biến độc lập gồm độ tin cậy, năng lực phục vụ, tính linh hoạt, giao tiếp và giá dịch vụ.

  2. Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ kho bãi. Cần xác định rõ khách hàng là doanh nghiệp thuê kho, không trộn với người tiêu dùng cuối.

  3. Các yếu tố ảnh hưởng đến lòng trung thành của khách hàng đối với doanh nghiệp vận tải đường bộ. Có thể đưa sự hài lòng làm biến trung gian nếu bạn đủ thời gian kiểm định mô hình.

  4. Ảnh hưởng của thời gian giao hàng và khả năng xử lý sự cố đến sự hài lòng của khách hàng vận tải. Đề tài này tương đối dễ khảo sát nếu bạn có nhóm khách hàng thường xuyên gửi hàng.

Nhóm 6: Logistics cảng biển và xuất nhập khẩu

  1. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của doanh nghiệp khi sử dụng dịch vụ cảng biển. Biến giải thích có thể gồm thời gian xử lý, minh bạch thông tin, chi phí và chất lượng phối hợp.

  2. Ảnh hưởng của số hóa thủ tục hải quan đến hiệu quả hoạt động xuất nhập khẩu. Đối tượng khảo sát cần là nhân viên xuất nhập khẩu hoặc logistics có kinh nghiệm sử dụng quy trình này.

  3. Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định tiếp tục sử dụng dịch vụ đại lý hải quan. Có thể đo năng lực chuyên môn, độ tin cậy, tốc độ phản hồi và tính minh bạch chi phí.

Các đề tài trên cũng có thể phát triển thành [đề tài nghiên cứu khoa học logistics] nếu bạn thu hẹp câu hỏi và trình bày rõ khoảng trống nghiên cứu. Với nhóm chuỗi cung ứng, hãy mô tả cụ thể doanh nghiệp, ngành hàng và vị trí người trả lời thay vì dùng khái niệm “doanh nghiệp nói chung”.

Mô hình và thang đo gợi ý

Bạn có thể chọn mô hình dựa trên loại biến phụ thuộc. Nếu nghiên cứu ý định sử dụng công nghệ, TAM là hướng dễ giải thích, với cảm nhận hữu ích và cảm nhận dễ sử dụng làm các biến cốt lõi (Davis, 1989). Nếu nghiên cứu ý định hành vi nói chung, TPB là một lựa chọn tham khảo (Ajzen, 1991). Với chấp nhận công nghệ trong tổ chức, UTAUT có thể phù hợp hơn (Venkatesh và cộng sự, 2003).

Nhóm đề tàiMô hình hoặc nguồn thang đo gợi ýBiến phụ thuộcCông cụ có thể dùng
Chất lượng dịch vụ logisticsSERVQUAL, (Parasuraman và cộng sự, 1988)Sự hài lòng, lòng trung thànhSPSS
Ý định sử dụng công nghệTAM, (Davis, 1989)Ý định sử dụngSPSS hoặc SmartPLS
Ý định hành vi xanhTPB, (Ajzen, 1991)Ý định lựa chọnSPSS hoặc SmartPLS
Chấp nhận công nghệ tổ chứcUTAUT, (Venkatesh và cộng sự, 2003)Ý định hoặc hành vi sử dụngSmartPLS
Chất lượng chuỗi cung ứngMô hình tự xây dựng từ chia sẻ thông tin, phối hợp và linh hoạtHiệu quả chuỗi cung ứngSPSS hoặc SmartPLS
Chuỗi cung ứng xanhCác nhóm thực hành xanh và kết quả hoạt độngLợi thế cạnh tranh hoặc hiệu quảSmartPLS

Bảng trên chỉ là hướng bắt đầu. Bạn không nên chép nguyên văn biến quan sát từ một bài nghiên cứu nước ngoài rồi gọi đó là thang đo đã được kiểm định tại Việt Nam. Hãy dịch, điều chỉnh ngữ cảnh logistics, nhờ giảng viên xem lại và chạy khảo sát thử nếu điều kiện cho phép.

Với thang đo nhiều biến quan sát, bạn có thể kiểm tra Cronbach's Alpha và Corrected Item-Total Correlation trên SPSS. Cronbach's Alpha từ 0.7 trở lên thường được xem là đạt (Nunnally, 1978), còn Corrected Item-Total Correlation từ 0.3 trở lên là ngưỡng thường dùng (Nunnally và Bernstein, 1994). Trong nghiên cứu khám phá, Alpha từ 0.6 có thể được cân nhắc theo bối cảnh (Hair và cộng sự, 2010).

Nếu dùng SmartPLS, bạn cần phân biệt measurement model và structural model. Một số ngưỡng thường được báo cáo gồm outer loading từ 0.7, CR từ 0.7 và AVE từ 0.5 (Chin, 1998) (Fornell và Larcker, 1981). HTMT nên dưới 0.85, hoặc dưới 0.90 với các khái niệm gần nhau (Henseler và cộng sự, 2015). Không đưa CFI, TLI hoặc RMSEA vào phần đánh giá PLS-SEM, vì các chỉ số đó thuộc CB-SEM.

Cách viết vào luận văn

Bạn có thể điều chỉnh đoạn sau: “Nghiên cứu đề xuất mô hình gồm [số lượng] biến độc lập, gồm [tên biến], nhằm kiểm định mức độ ảnh hưởng đến [biến phụ thuộc] trong bối cảnh [đối tượng và địa bàn]. Các biến quan sát được kế thừa và điều chỉnh từ [tác giả, năm], sau đó đánh giá thông qua [Cronbach's Alpha và EFA hoặc measurement model trên SmartPLS].”

Dữ liệu lấy ở đâu và cỡ mẫu bao nhiêu

Nguồn dữ liệu phải khớp với người có khả năng trả lời câu hỏi. Đề tài về sự hài lòng của khách hàng giao hàng có thể khảo sát người đã đặt hàng trong thời gian gần đây. Đề tài về hiệu quả chuỗi cung ứng cần người làm trong mua hàng, kho, vận tải, kế hoạch hoặc quản lý doanh nghiệp. Bạn nên đặt một câu hỏi sàng lọc ở đầu bảng hỏi để loại người không thuộc đối tượng.

Nếu một biến quan sát cần 5 đến 10 quan sát, số mẫu có thể được ước tính theo số biến quan sát (Hair và cộng sự, 2010). Với hồi quy, quy tắc n từ 50 + 8m trở lên, trong đó m là số biến độc lập, thường được nhắc đến (Tabachnick và Fidell, 2013). Đây là căn cứ tham khảo, không thay thế cho việc xem yêu cầu của khoa và thiết kế nghiên cứu.

Số biến quan sát dự kiếnKhoảng mẫu theo tỷ lệ 5 đến 10 lầnGợi ý triển khai
1575 đến 150Phù hợp mô hình nhỏ, ít nhóm đối tượng
20100 đến 200Có thể dùng cho đề tài chất lượng dịch vụ
25125 đến 250Cần dự phòng phiếu không hợp lệ
30150 đến 300Phù hợp mô hình nhiều khái niệm hơn
40200 đến 400Chỉ chọn khi bạn có kênh tiếp cận ổn định

Ví dụ, đề tài có 25 biến quan sát và bạn đặt mục tiêu 200 phản hồi hợp lệ. Bạn có thể thu khoảng 230 đến 250 phiếu để bù cho phiếu bỏ trống, trả lời quá nhanh hoặc chọn cùng một mức cho gần như toàn bộ bảng hỏi. Đừng tự ý giữ lại mọi phiếu để đạt số lượng nếu người trả lời không thuộc đối tượng.

Khi thu thập, bạn có thể dùng fillform.info, công cụ biểu mẫu tiếng Việt của DoThesis, hoặc Google Forms. Sau khi xuất dữ liệu, giữ mã biến ngắn và nhất quán, chẳng hạn CLDV1, CLDV2, SAT1. File CSV hoặc Excel nên có một hàng tiêu đề và mỗi hàng tiếp theo là một người trả lời.

Trước khi chạy SPSS, hãy kiểm tra giá trị thiếu, bản ghi trùng, thời gian trả lời bất thường và các câu trả lời có mẫu lặp. Nếu có biến đảo chiều, phải mã hóa lại trước khi tính điểm thang đo. Bạn cũng cần lưu một bản dữ liệu gốc và một bản đã làm sạch để có thể giải trình với giảng viên.

Nếu đề tài dùng SmartPLS, file CSV nên có tên biến không trùng nhau, không có ô chứa ký hiệu lạ và các cột thang đo được mã hóa bằng số. Bạn có thể bắt đầu với mô hình đo lường, sau đó đánh giá mô hình cấu trúc theo trình tự. Việc này gần với cách tiếp cận hai bước được đề xuất trong nghiên cứu SEM (Anderson và Gerbing, 1988).

Những đề tài nên tránh

Bạn nên cân nhắc lại đề tài nếu tiêu đề chứa một khái niệm rất rộng nhưng không có cách đo cụ thể. “Phát triển logistics quốc gia” hoặc “Giải pháp nâng cao năng lực logistics Việt Nam” thường đòi hỏi dữ liệu vĩ mô, dữ liệu doanh nghiệp và phạm vi phân tích vượt quá một khóa luận cá nhân.

Đề tài “Ứng dụng blockchain trong logistics” cũng dễ bị rộng nếu bạn không xác định rõ người trả lời, quy trình và biến phụ thuộc. Có thể thu hẹp thành ý định áp dụng blockchain của doanh nghiệp vận tải, nhưng bạn vẫn cần tiếp cận đúng nhóm có hiểu biết về công nghệ.

Bạn cũng nên tránh đề tài mà dữ liệu nằm hoàn toàn trong hệ thống nội bộ của một công ty nhưng chưa có văn bản đồng ý. Những đề tài đo chi phí vận tải, tỷ lệ giao đúng hẹn hoặc năng suất kho sẽ khó làm nếu doanh nghiệp không cho phép dùng số liệu.

Cuối cùng, đừng chọn mô hình có quá nhiều biến trung gian và điều tiết chỉ vì muốn bài có vẻ phức tạp. Mỗi biến thêm vào kéo theo thang đo, giả thuyết, kiểm định và phần giải thích. Với thời gian hạn chế, một mô hình có 4 hoặc 5 biến độc lập nhưng lập luận rõ thường an toàn hơn.

Lỗi thường gặp khi chốt đề tài

Lỗi đầu tiên là chốt tên trước rồi mới tìm dữ liệu. Bạn nên làm ngược lại bằng cách xác định người trả lời, kênh tiếp cận và thời gian thu thập. Nếu chưa trả lời được ba câu hỏi đó, tên đề tài vẫn còn trên giấy.

Lỗi thứ hai là dùng “logistics” và “chuỗi cung ứng” như hai từ đồng nghĩa. Logistics thường tập trung vào vận tải, kho bãi, giao nhận và dòng hàng. Chuỗi cung ứng có phạm vi rộng hơn, bao gồm nhà cung cấp, sản xuất, phân phối, thông tin và phối hợp giữa các bên. Khi viết đề tài luận văn chuỗi cung ứng, bạn cần nói rõ đang nghiên cứu mắt xích nào.

Lỗi thứ ba là gom khách hàng, nhân viên và nhà quản lý vào cùng một bảng hỏi. Ba nhóm này nhìn thấy các khía cạnh khác nhau của logistics. Hãy chọn một đơn vị phân tích chính, sau đó thiết kế câu hỏi đúng với trải nghiệm của họ.

Lỗi thứ tư là chỉ đưa ra tên đề tài mà không có mô hình. Khi trình giảng viên, hãy mang theo sơ đồ gồm biến độc lập, biến phụ thuộc và hướng tác động dự kiến. Nếu có trung gian hoặc điều tiết, giải thích vì sao biến đó cần xuất hiện.

Lỗi cuối là quên kế hoạch viết. Sau khi phân tích xong, bạn còn phải trình bày bảng kết quả, diễn giải giả thuyết và nêu hàm ý. Hãy xem trước hướng dẫn cách ghi tài liệu tham khảo, chuẩn bị cách lưu nguồn và đặt tên file ngay từ đầu. Khi hoàn thiện bản thảo, bạn có thể tham khảo quy trình check Turnitin để tự kiểm tra trích dẫn và phần trùng lặp phù hợp.

Đọc thêm: abstract, thạc sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Nên chọn đề tài logistics hay đề tài chuỗi cung ứng

Hãy chọn logistics nếu bạn dễ tiếp cận khách hàng giao hàng, nhân viên vận tải, người dùng dịch vụ kho hoặc doanh nghiệp logistics. Chọn chuỗi cung ứng khi bạn có thể khảo sát người làm trong mua hàng, sản xuất, tồn kho hoặc phối hợp với nhà cung cấp.

Với sinh viên làm bảng hỏi trực tuyến, đề tài về dịch vụ giao hàng và thương mại điện tử thường dễ xác định đối tượng hơn. Đề tài chuỗi cung ứng doanh nghiệp có thể có giá trị tốt, nhưng yêu cầu người trả lời đúng vị trí công việc.

Đề tài nghiên cứu khoa học logistics nên có bao nhiêu biến

Không có một con số bắt buộc cho mọi đề tài. Bạn có thể bắt đầu với 3 đến 5 biến độc lập, một biến phụ thuộc và chỉ thêm biến trung gian khi có lập luận lý thuyết rõ.

Mỗi biến cần có thang đo, câu hỏi khảo sát và cách giải thích trong chương kết quả. Vì vậy, hãy tính cả số biến quan sát và thời gian làm sạch dữ liệu, thay vì chỉ đếm số mũi tên trên mô hình.

Có thể dùng SmartPLS cho đề tài logistics không

Có thể, đặc biệt khi mô hình có biến tiềm ẩn, nhiều quan hệ giữa các khái niệm hoặc mục tiêu thiên về dự báo. Bạn cần báo cáo measurement model và structural model riêng, gồm outer loading, CR, AVE, HTMT, VIF, path coefficient và R² khi phù hợp.

Nếu dùng bootstrapping, hãy ghi rõ số subsamples và cài đặt trong kết quả. Mức 5.000 bootstrap subsamples được nêu trong hướng dẫn PLS-SEM (Hair và cộng sự, 2022). Đừng trộn các chỉ số fit của CB-SEM vào bài SmartPLS.

Thu thập bao nhiêu mẫu cho khóa luận logistics

Bạn cần dựa vào số biến quan sát, số biến độc lập, yêu cầu của khoa và khả năng tiếp cận người trả lời. Với 25 biến quan sát, khoảng 125 đến 250 quan sát là một mốc tham khảo theo tỷ lệ 5 đến 10 lần (Hair và cộng sự, 2010), nhưng bạn nên dự phòng phiếu không hợp lệ.

Quan trọng hơn số lượng là tính đúng đối tượng. Một tập dữ liệu lớn nhưng phần lớn người trả lời chưa từng sử dụng dịch vụ hoặc không làm trong lĩnh vực được nghiên cứu vẫn có thể bị giảng viên yêu cầu loại bỏ.

Có nên đổi đề tài nếu khảo sát khó tiếp cận

Nên xem lại phạm vi trước khi đổi toàn bộ hướng nghiên cứu. Bạn có thể chuyển từ nhân viên doanh nghiệp sang khách hàng dịch vụ, từ toàn quốc sang một thành phố, hoặc từ hiệu quả hoạt động nội bộ sang sự hài lòng của người sử dụng.

Nếu sau khi thu hẹp mà vẫn không có kênh tiếp cận, đổi đề tài sớm sẽ an toàn hơn cố giữ một mô hình không có dữ liệu. Hãy lưu lại lý do chọn và loại đề tài, để khi trình giảng viên bạn giải thích được quyết định của mình.

Bây giờ, hãy chọn hai đề tài trong danh sách, viết mỗi đề tài thành một mô hình gồm biến độc lập, biến phụ thuộc, đối tượng khảo sát và nguồn dữ liệu, rồi gửi giảng viên duyệt trước khi tạo bảng hỏi. Nếu cần chạy phân tích trên file .sav hoặc .csv của chính bạn, M4 phân tích dữ liệu của DoThesis có thể hỗ trợ bước này.